GIÁO HỘI PHẬT GIÁO VIỆT NAM
Cập nhật lúc 15-08-2015 (GMT+7)

Lời vàng vi diệu (P.1)

Xưa nay định luật ngàn thu/Hận thù đối đáp hận thù khó phai/Từ bi dập tắt hận ngay/Ấy là diệu dược đại tài xưa sau.

Kinh Pháp Cú (Dhammapada) là một trong những bộ kinh nổi tiếng nhất của Kinh tạng Thượng Tọa Bộ (Theravada) và ngày càng được phổ biến trong giới học Phật trên toàn thế giới. Dhamma (Pháp) nghĩa là Phật pháp, là chân lý vĩnh cửu, là sự công chính, là mọi sự vật, hiện tượng. Pada (Cú) nghĩa là bàn chân, là bước đi, là thơ, là kệ tụng. Kinh thuộc Tiểu Bộ (Khuddaka Nikàya) của Kinh tạng Nguyên Thủy. Bản gốc Pali ngữ đã được dịch ra khá sớm, bằng chữ Kharosthi, bằng Hybrid Sanscrit, và Tạng ngữ. Về sau, xuất hiện nhiều bản dịch của nhiều ngôn ngữ trên thế giới: Hán, Anh, Pháp, Đức, Miến, Nhật... nói chung là ở hầu hết các nước có sự hiện hữu của Phật giáo.
 
Các nhà nghiên cứu đã tìm thấy đã tìm thấy vài bản Pháp Cú khác nhau: ví dụ, bản của ngài Pháp Cứu (Dharmahata, thế kỷ thứ I trước Tây lịch) gồm 39 phẩm, 759 bài kệ; bản của Tăng Già Bạt Trường và Trúc Phật Niệm (năm 398) gồm 33 phẩm và gần 1.000 bài kệ; các Phạn bản không đầy đủ ở Khố Xa, Đôn Hoàng... Nhưng thường thì các bản dịch đều căn cứ vào bản Pali gồm 26 phẩm, 423 bài kệ do ngài Buddhagosa (Phật Âm) diễn giải vào khoảng thế kỷ thứ V Tây lịch.
 
Các bản Việt dịch thường căn cứ vào các bản Pali, Hán, Anh, Pháp... Đó là các bản dịch của Á Nam Trần Tuấn Khải, của Hòa thượng Thích Thiện Siêu, của Hòa thượng Thích Minh Châu, của Hòa thượng Thích Trí Quang, của cư sĩ Phạm Kim Khánh... Riêng các bản dịch ra thơ lục bát thì đã có các dịch giả Minh Đức Triều Tâm Ảnh (xuất bản năm 1995), Tịnh Minh (xuất bản năm 1995), Ngô Tằng Giao (xuất bản năm 2003), Giác Hạnh (xuất bản năm 2008), v.v...
 
Hòa thượng Thích Giác Toàn (bút hiệu Trần Quê Hương), từ lâu với tâm nguyện được tiếp nối, thể hiện truyền thống của hệ phái Phật Giáo Khất Sĩ Việt Nam, đã cố gắng chuyển thật nhiều các kinh kệ Phật giáo ra các thể loại thơ, đặc biệt là thơ lục bát, thể thơ quen thuộc với phần đông Phật tử Nam Bộ và với đại chúng người Việt. Sau tập sách "Hương Thiền Ngàn Năm" mừng Đại lễ ngàn năm Thăng Long - Hà Nội , trong đó ông đã diễn dịch phần khá lớn thơ văn Phật giáo thời Lý Trần, ông tiếp tục chuyên tâm chuyển tác những lời vàng của đức Phật ra thơ lục bát. Đối với ông , đây cũng là cơ duyên bày tỏ tấm lòng tu tập tự thân, mà cũng để góp phần truyền bá Phật pháp, đền đáp hồng ân của chư Phật, chư Tổ, kết nối tâm nguyện hảo ý của các tác giả những bản dịch đã thực hiện trong thời gian qua.
 
Tập sách này có tựa đề là "Lời Vàng Vi Diệu". Chuyển sang thơ lục bát, ông  dựa vào bản dịch của cố đại lão Hòa thượng Thích Thiện Siêu, đạo hiệu Trí Đức, được xuất bản lần đầu vào năm 1959, theo bản Hán dịch từ Pali ngữ của Hòa thượng Liễu Tham. Có thể nói, "Lời Vàng Vi Diệu" không phải là một bản dịch nguyên văn, mà đúng hơn, là một bản diễn ý kinh Pháp Cú. Lý do có thể là vì kỹ thuật diễn thơ lục bát và nhất là vì sự rung cảm vốn rất chân thành nhưng cũng mang cảm tính của tự thân đối với bản kinh. Đây cũng là cách diễn đạt của ông  về một số kinh văn, nhất là về các thơ văn Phật giáo thời Lý Trần, như trong tập sách "Hương Thiền Ngàn Năm".
 
Ban biên tập xin trân trọng giới thiệu nội dung tập sách "Lời Vàng Vi Diệu" đến với bạn đọc.
(Do tác phẩm "Lời Vàng Vi Diệu" gồm có 26 phẩm, mỗi kỳ , chúng tôi xin phép giới thiệu một phẩm của tập sách)
 
"LỜI VÀNG VI DIỆU "
(Kinh Pháp Cú (Dhammapada) - Nhà thơ Trần Quê Hương chuyển thơ )
 
I. PHẨM SONG YẾU (1)
(YAMAKA VAGGA)
 
1.
Xưa nay các pháp trong đời
Tâm làm chủ, tâm gọi mời mà nên
Ngày ngày ác hạnh triền miên
Nói năng, hành động dính liền nhiễm ô
Như bánh xe theo chân bò
Nghiệp khổ cũng thế hẹn hò cùng tâm.
 
2.
Xưa nay các pháp trong đời
Tâm làm chủ, tâm gọi mời mà nên
Ngày ngày thân tâm tịnh yên
Nói năng, hành động, ý hiền thiện nhân
Như hình với bóng keo sơn
Phước lạc cũng thế, theo chân quả lành.
 
3.
Người kia lăng mạ,  chửi tôi
Đánh đập, phá hoại, cướp hôi gian trần
Ai còn ôm ấp  khổ thân
Oán oán tương báo khó phần thoát ra.
 
4.
Người kia lăng mạ chửi tôi
Đánh đập, phá hoại, cướp hôi gian trần
Ai mà bỏ được nhẹ thân
Oán oán thôi dứt, yên phần tịnh tu.
 
5.
Xưa nay định luật ngàn thu
Hận thù đối đáp hận thù khó phai
Từ bi dập tắt hận ngay
Ấy là diệu dược đại tài xưa sau.
 
6.
Người tranh luận chẳng hiểu sâu
Thân ta sống chết qua mau khó lường
Ai mà giác ngộ vô thường
Không còn tranh chấp nêu gương đạo hiền.
 
7.
Người mê tham chấp đảo điên
Tham sống khoái lạc, trói duyên nghiệp đời
Các căn không nhiếp hộ thời
Ăn uống vô độ, biếng lười tự thân
Dễ bị nghiệp ma xoay vần
Như cây trước gió, phù vân khổ sầu!
 
8.
Người tỉnh tham chấp lìa xa
Chăng ham khoái lạc huyễn ma ảo đời
Các căn tỉnh giác xinh tươi
Ăn uống tiết độ, thời thời siêng năng
Không bị ma nghiệp trói trăn
Như tảng đá vững, gió hằng khó lay.
 
9.
Những ai mặc áo cà sa
Không bỏ uế trược(2) chẳng là người tu
Không tự khắc kỷ công phu
Thà rằng đừng mặc, hơn phù hư danh.
 
10.
Những ai tinh tấn tu hành
Uế trược buông bỏ, giới thành luật nghiêm
Tự mình khắc kỷ đạo hiền
Mặc áo như thế, hạnh thiền sáng danh.
 
 
11.
Phi pháp(3) tưởng là thiện sanh
Thiện sanh(4) lại thấy chẳng lành đảo điên
Nghĩ suy tà vạy não phiền
Người tu như thế, chơn thiền khó mong.
 
12.
Chơn thật thấy chơn thật trong
Phi chơn thấy rõ trống không đúng là
Tư duy đúng đắn chánh tà
Người tu như thế ma ha diệu kỳ.
 
13.
Nhà lợp không kín hở hang
Ắt bị mưa dột lan man đầy nhà
Người tu tâm tánh vạy tà
Tất bị tham dục đẫy đà mê tâm.
 
14.
Nhà khéo lợp kín trước sau
Không bị mưa dột lao đao khổ sầu
Người tu tâm tánh thanh cao
Không bị tham dục chen vào an tâm.
 
15.
Đời này, chỗ này ăn năn
Đời sau, chỗ khác cũng rằng như in
Kẻ làm điều ác vô minh
Trước sau đều bị bóng hình đuổi theo
Ác nghiệp quả khổ cực nghèo
Giày vò cắn rứt mãi đeo kiếp người.
 
16.
Đời này, chỗ này sống vui
Đời sau, chỗ khác nụ cười hân hoan
Người làm thiện nghiệp bình an
Trước sau đều cũng rỡ ràng pháp duyên
Cực lạc, hạnh phúc hiện tiền
Mình làm mình hưởng nối liền quả nhân.
 
17.
Đời này, chỗ này buồn than
Kẻ gây ác nghiệp gian nan hại đời
"Ác nghiệp tôi đã tạo rồi
Nay nó sanh quả đứng ngồi bất an"
Nó khóc buồn, nó kêu than
Vì phải đọa khổ vô vàn đớn đau!
 
18.
Đời này, chỗ này vui mừng
Đời sau, chỗ khác tưng bừng phước duyên
Người tu hành, quả hiện tiền
"Tôi đã tạo phước, nối liền thiện căn"
Nhân quả tái sanh cõi lành
Đời đời hoan hỷ cao thanh an bình.
 
19.
Dù cho đọc tụng nhiều kinh
Không tu không tập, tự khinh chính mình
Sống buông lung, phước chẳng sanh
Sa môn quả báo mỏng manh kiếp người
Kẻ chăn bò, hưởng công thôi
Ngày ngày tôi tớ, kiếp đời phù du!
 
20.
Kệ kinh đọc tụng công phu
Nghiệm suy ý nghĩa, tập tu hành trì
Sáng chiều đoạn tham sân si
Thân tâm thanh tịnh, giữ y đạo hiền
Xa lìa thế tục trần duyên
Đời này, đời khác hạnh thiền Sa môn.

Còn tiếp...